Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    WEBSITE TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH LỘC-CAN LỘC-HÀ TĨNH

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM >

    lớp 3

    PHẦN I:  ĐẶT VẤN ĐỀ

    1. LÝ do chän ®Ì tµi:

              Phân môn Tập làm văn ở chương trình Tiếng Việt lớp Ba có một vai trò hết sức quan trọng đối với việc rèn luyện các kĩ năng nghe - kể, nói, viết cho học sinh. Là phân môn góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp Ba.  Xem xét chương trình chúng ta thấy một trong ba nội dung khá quan trọng  của dạy học Tập làm văn lớp Ba đó là rèn luyện kĩ năng nghe và ghi nhớ thông qua các bài tập “Nghe – kể ”, “Nghe- kể lại chuyện”

    Qua nội dung dạy học Tập làm văn lớp Ba tôi thấy : Dạng bài “ Nghe -kể lại chuyện” chiếm một tỉ lệ khá lớn trong chương trình Tập làm văn lớp Ba. Ngữ liệu học tập của dạng đề này phần lớn là các truyện vui ngắn, kiểu bài yêu cầu học sinh nghe giáo viên kể lại một câu chuyện (không được in sẵn trong  sách giáo khoa) ghi nhớ tên các nhân vật, diễn biến sau đó kể lại câu chuyện và trả lời được các câu hỏi về nội dung, ý nghĩa câu chuyện.

    Với đặc điểm: Các câu chuyện dùng nghe - kể không có trong sách giáo khoa (có nghĩa là học sinh không biết trước câu chuyện) nó vừa tạo nên sự hấp dẫn của tiết nghe- kể đối với  học sinh nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao đối với cả thầy lẫn trò . Thực tế giảng dạy cho thấy  giáo viên cũng gặp không ít khó khăn đặc biệt là với những lớp trình độ  học sinh yếu. Qua dự giờ thăm lớp cho thấy rằng: Thực tế khi dạy dạng bài này giáo viên  thường tuân thủ quy trình và các bước gợi ý ở Sách giáo viên Tiếng Việt 3, giáo viên chưa có sáng tạo   hay đưa ra phương án dạy học nào khác .

    Khi áp dụng dạy theo quy trình này, hiệu quả giờ học nhìn chung vẫn tốt song nếu như lúc nào chúng ta cũng lặp lại một quy trình dạy học đơn điệu (trong khi đây là dạng bài Nghe - kể) sẽ dẫn đến hậu quả “học sinh nhàm chán” và hứng thú  đối với giờ học không cao, giáo viên chưa phát huy được triệt để tính tích cực sáng tạo của học sinh. Trước thực tế đó cần làm gì để khi dạy kiểu bài “Nghe - kể lại chuyện” đa dạng hơn, giờ học đến với các em học sinh nhẹ nhàng tự nhiên nhưng vui và tích cực hơn trong tiết học ? Là giáo viên trực tiếp đứng lớp , tôi đã nghiên cứu chương trình và dự giờ các đồng chí dạy lớp Ba, nghiên cứu một số tài liệu về phương pháp dạy học sau đó tôi đã đúc rút kinh nghiệm và ®­a ra s¸ng kiÕn "Một số biện pháp rèn kĩ năng cho häc sinh líp 3 khi học các bài Tập làm văn i Nghe-  KÓ".

     

    PHẦN II:  gi¶i quyÕt vÊn ®Ò

    1. I.                  THỰC TRẠNG

    1. Về dạng bài Tập làm văn  nghe - kể lại chuyện trong chương trình Tiếng Việt - lớp Ba:

    + D¹ng bµi nµy gåm 10 tiÕt. Chương trình yêu cầu học sinh nghe và kể lại 10 câu chuyện trong đó có 2 câu chuyện dài (Chàng trai làng Phù Ủng - Tuần 19; Người bán quạt may mắn – Tuần 24) dạy trong 1 tiết và 8 câu chuyện ngắn (Dại gì mà đổi - Tuần 4; Không nỡ nhìn - Tuần 7; Tôi có đọc đâu - Tuần 11;  Tôi cũng như bác - Tuần 14; Giấu cày - Tuần 15; Kéo cây lúa lên - Tuần 16; Vươn tới các vì sao-Tuần 34) dạy trong 0,5 tiết. Trong 10 câu chuyện đó có 5 câu chuyện về danh nhân và 5 câu chuyện vui về đề tài cuộc sống hàng ngày. Những câu chuyện này vừa có ý nghĩa giáo dục vừa tạo nên tiếng cười sảng khoái đem lại sự tươi vui cho học sinh tiểu học. Các câu chuyện dùng nghe kể này không có trong  sách giáo khoa (trong sách giáo khoa chỉ có hình ảnh minh họa và câu hỏi gợi ý).

    Kiểu bài nghe - kể trong phân môn Tập làm văn lớp 3 có nhiệm vụ phát triển kỹ năng nói và kỹ năng nghe cho học sinh thông qua truyện kể: Nghe hiểu và kể lại được nội dung những câu chuyện ngắn, biết nhận xét về các nhân vật trong truyện; biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp như trao đổi với bạn, thảo luận nhóm, trả lời câu hỏi, biết kể lại câu chuyện đã nghe.

    + Khã kh¨n khi d¹y: Xuất phát từ mục tiêu nhiệm vụ của kiểu bài nghe - kể trong phân môn Tập làm văn lớp 3 tôi thấy:

     Kể chuyện thường sử dụng nhiều ngôn ngữ nói nên nó rất phức tạp và khó. Khi dạy bài tập nghe - kể thường xa rời đặc trưng cơ bản này và thay thế kể chuyện bằng hình thức đọc chuyện (hoặc nếu có kể thì cũng không thuộc chuyện, nhìn SGK kể chuyện). Điều đó làm giảm đi rất nhiều hiệu quả của tiết dạy.

     Mục đích của kiểu bài nghe - kể là rèn luyện kỹ năng nghe, nói. Nhưng nhiều giáo viên khi dạy thường ít chú trọng rèn kỹ năng nghe hiểu cho học sinh khi nghe kể chuyện (nghe đúng, nghe chính xác, nghe hiểu nội dung câu chuyện để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện đó) dẫn đến việc học sinh tiếp nhận văn bản chuyện còn mang tính rập khuôn, máy móc, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh trong học tập.

    Mặt khác việc hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện đã nghe còn đi theo lối mòn (kể lại câu chuyện đã nghe theo đúng ngôi kể của văn bản chuyện). Trên thực tế đa số học sinh đều kể lại câu chuyện đã nghe một cách trôi chảy (dựa vào hệ thống câu hỏi gợi ý của SGK), vậy nên chẳng cần áp dụng biện pháp chuyển đổi ngôi kể - nghĩa là tạo nên một tình huống giao tiếp mới thì chắc chắn giờ học sẽ sinh động và hiệu quả hơn.  Đây là một kiểu bài tập làm văn hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh bậc cao hơn so với lớp 2, không phải nghi thức lời nói thông thường như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi... mà là hoạt động giao tiếp có tính chất chính thức. Đặc biệt là tăng cường rèn luyện kỹ năng nói thông qua hình thức nghe kể. Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập môn Tiếng Việt. Với kiểu bài tập làm văn này học sinh nghe giáo viên kể lại một câu chuyện không được in s½n trong sách giáo khoa. Điều đó có nghĩa là học sinh không biết trước câu chuyện. Đặc điểm này tạo nên sự hấp dẫn của tiết nghe - kể đối với học sinh nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao đối với cả thầy lẫn trò. Thầy phải kể lại câu chuyện một cách trung thành và hấp dẫn. Còn trò phải nhớ và kể lại được. Muốn thực hiện được những yêu cầu này có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như thường xuyên theo dõi quá trình học tập của học sinh một cách chặt chẽ. Dùng các phương pháp giảng dạy thích hợp, có trọng tâm, tổ chức bồi dưỡng, kèm cặp hoặc phụ đạo... Nhưng thực tế đã chứng minh rằng: Sử dụng hình thức và phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng là một trong những phương pháp hiệu quả nhất với sự nổ lực của bản thân trong việc đổi mới phương pháp dạy học.

     

    2. Thực tế dạy học dạng bài này của Giáo viên và  học sinh lớp Ba trong trường

    1. 1.     ViÖc gi¶ng d¹y cña gi¸o viªn:

    Qua dự giờ của GV khối 3 trong và tìm hiểu qua các GV trực tiếp giảng dạy Tôi thấy quy trình cụ thể của GV áp dụng chung cho tất cả các dạng bài Tập làm văn nghe - kể lại chuyện như sau:

    -         GV kể lại câu chuyện 2 hay 3 lần

    -         GV đưa ra câu hỏi gợi ý chi tiết cho  học sinh làm điểm tựa nhớ lại nội dung chuyện

    -         Một vài học sinh kể

    -         Học sinh kể theo nhóm

    -         Đại diện một vài nhóm HS kể lại chuyện trước lớp

    Bên cạnh đó Tôi cũng thấy một số yếu điểm mà trong quá trình dạy kiểu bài này giáo viên thường vấp phải ,đó là : GV kể chưa hấp dẫn đặc biệt là yếu tố vui, thú vị trong câu chuyện chưa truyền tải hết  ,truyện có yếu tố gây cười song có khi GV kể học sinh vẫn chưa nhận ra được sự hóm hỉnh, gây cười trong câu chuyện, có những giáo viên chưa thật chú trọng  rèn kĩ năng nghe và kể chuyện của học sinh.

    1. 2.     ViÖc häc tËp cña häc sinh:

    Qua  các tiết học  Tập làm văn dạng bài “ Nghe kể lại chuyện” tôi đã dự ở các lớp  cho thấy:  HS hầu hết ghi nhớ được tên nhân vật, diễn biến (vì cơ bản những chuyện này đều ngắn) và các em cũng kể lại được các tình tiết cơ bản của câu chuyện song việc trả lời các câu hỏi về nội dung của câu chuyện chưa cao. Đặc biệt niềm vui, sự thú vị, ý thích kể chuyện của các em có phần hạn chế, kĩ năng nghe và kể lại chuyện chưa hay vì GV chưa chú trọng rèn cho các em.

    1. 3.     Thực tế lớp  phụ trách.

    Qua kh¶o s¸t ®Çu n¨m t«i thấy kết quả như sau:

     

    Lớp

    Tổng số HS

    Số em kể được truyện  đúng, đủ các chi tiết, giọng kể tốt.,nêu được ý nghĩa

    Số em kể được nội dung chuyện nhưng chưa thể hiện đươc sự khôi hài  của chuyện

    Số HS  kể chưa đầy đủ

    kĩ năng kể còn non

    3A

    26

    8 em = 30,8 %

    10em = 38,4 %

    8em = 30,8%

     

    II. MỘT SÔ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN GIẢNG DẠY CÓ HIỆU QUẢ KIỂU BÀI TẬP LÀM VĂN NGHE- KÓ Ở LỚP 3.

    1. Sự chuẩn bị của giáo viên khi dạy kiểu bài nghe - kể.

    a. Đọc chuyện, tìm hiểu thâm nhập chuyện.

    Để có thể kể được, kể có nghệ thuật, hấp dẫn, rõ ràng, hơn ai hết giáo viên phải là người thuộc truyện, nắm vững tình tiết của truyện, hiểu cặn kẽ ý nghĩa và bài học rút ra từ câu chuyện. Đây là yêu cầu không thể thiếu trước khi dạy kiểu bài này.

    b. Tập kể chuyện.

    Đọc và thâm nhập chuyện là bước đầu tiên làm quen với chuyện kể. Nhưng dù sao vẫn là chuyện ở bên ngoài, giáo viên cần biến chuyện đó thành chuyện của bản thân mình bằng cách tập kể chuyện. Quá trình tập kể chuyện là quá trình chuyển ngôn ngữ từ văn bản in ấn sang ngôn ngữ của bản thân giáo viên. Giáo viên có thể kể theo các cách thể nghiệm khác nhau sao cho bộc lộ được tâm lý nhân vật trong chuyện một cách sâu sắc.

    2. Một số biện pháp rèn kỹ năng nghe - hiểu cho học sinh.

    a. Giúp học sinh hiểu yêu cầu luyện nghe trong các kiểu giao tiếp.

    Yêu cầu luyện nghe của học sinh lớp 3 được xác đinh như sau:

    - Nghe trong hội thoại: Nghe hiểu nội dung chính lời nói của đối thoại.

    - Nghe hiểu văn bản:

    + Nghe hiểu thông tin chính của các quảng cáo, thông báo tin tức, các văn bản phổ biến kiến thức khoa học thường thức... phù hợp với học sinh lớp 3. Nghe hiểu nội dung lời nói, ý kiến thảo luận trong sinh hoạt nhóm, lớp...

    + Nghe các câu chuyện dân gian, các bài thơ, bài hát, những mẫu chuyện và kể lại. Tập nhận biết về nhân vật các chuyện đó.

    Vậy kỹ năng nghe hiểu của học sinh lớp 3 trong bài tập nghe kể là nghe - hiểu nội dung câu chuyện, nhớ các nhân vật, tình tiết diễn biến câu chuyện và kể lại được câu chuyện đó. Tập nhận biết về nhân vật trong các mẫu chuyện.

    b. Gây hứng thú cho học sinh trong giờ học.

    Muốn rèn kỹ năng nghe, nói tốt thì việc gây hứng thú trong tiết học là quan trọng nhất. Việc gây hứng thú trong tiết học chính là việc kể chuyện của giáo viên. Bởi vậy giáo viên tuyệt đối không được thay thế hình thức kể chuyện bằng đọc chuyện vì kể khác đọc. Kể mang sắc thái ngôn ngữ riêng của người kể nên dễ gây được sự chú ý của người nghe. Kể có thể dừng lại, kể chậm, tô đậm hoặc đặt câu hỏi giữa chừng và tự trả lời, khắc sâu tình tiết cốt truyện, làm cho người nghe có điều kiện theo dõi nhân vật, tình tiết và cốt truyện. Khác với đọc, chỉ nghe thoảng qua khó ghi nhớ lại. Kể có thể biểu lộ tình cảm yêu, ghét, buồn, vui nên dễ được sự đồng cảm của người nghe và khác hẳn với các hình thức dạy học khác: Kể có tác dụng truyền cảm ngay tức khắc. Chính vì thế giáo viên phải kể chuyện thật hấp dẫn, thật có hồn trong lời kể để lột tả được cái hay, cái đẹp của văn bản chuyện. Từ dó cuốn hút học sinh nghe để các em thấy được cái hay riêng trong mỗi câu chuyện, các em sẽ thích nghe, thích khám phá và thích kể được giống như cô giáo.

    c. Luyện cho học sinh cách nghe – hiÓu câu chuyện.

    Cách tiến hành: Thực hiện ba bước (trước, trong và sau khi nghe).

    * Trước khi nghe kể chuyện:

    Đối với kiểu bài tập nghe kể này thường có tranh minh hoạ chuyện kể và các câu hỏi gợi ý. Vì vậy trước khi kể chuyện giáo viên cần định hướng cách nghe cho học sinh bằng cách dựa vào các điểm tựa quan trọng đó.

    - Hướng dẫn học sinh quan sát tranh minh hoạ, đọc thầm tên truyện và câu hỏi gợi  ý.

    Nêu một số câu hỏi để định hướng suy nghĩ cho học sinh trước khi nghe.

    * Trong khi nghe:

    - Giáo viên kể chuyện lần một. Sau đó lần lượt hỏi học sinh một số câu hỏi(SGK) để kiểm tra mức độ nghe của học sinh. Học sinh trả lời (có thể chưa thật chính xác).

    - Cho học sinh nghe thêm lần nữa để tự tìm câu trả lời (giáo viên kể chuyện lần hai).

    - Nên cho học sinh nghe hết nội dung câu chuyện, không dừng lại để giải thích gì thêm.

    * Sau khi nghe:

    Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra mức độ nghe như:

    - Để học sinh hỏi đáp lẫn nhau (về nhân vật, tình tiết, diễn biến của câu chuyện, ý nghĩa rút ra từ câu chuyện).

    - Cho học sinh tập kể nhiều lần: Cá nhân, theo cặp, theo nhóm.

    - Thi kể lại chuyện trước lớp.

    - Giáo viên giúp học sinh nêu ý nghĩa của chuyện.

    Ví dụ: Khi kể câu chuyện vui "Không nỡ nhìn" (Tiếng Việt 3 - Tập 1) giáo viên nên thực hiện các bước sau:

    * Định hướng cho học sinh trước khi nghe kể chuyện:

    - Hướng dẫn học sinh quan sát tranh minh hoạ chuyện kể, đọc thầm tên câu chuyện và các câu hỏi gợi ý để dễ ghi nhớ câu chuyện khi nghe thầy, cô kể.

    - Nêu một số câu hỏi để định hướng suy nghĩ cho học sinh.

    + Câu chuyện này tên là gì?

    + Em thấy tranh vẽ những ai? Họ đang làm gì, ở đâu?

    + Dựa theo tranh vẽ và các câu hỏi, em hãy cho biết nhân vật chính trong câu chuyện này là ai?

    + Em thử đoán xem bà cụ hỏi anh thanh niên điều gì?

    + Theo em câu "Không nỡ nhìn" là câu nói của ai?

    * Trong khi nghe kể chuyện:

    - Giáo viên kể chuyện "Không nỡ nhìn" (giọng vui, khôi hài). Kể xong lần một hỏi học sinh (để kiểm tra sơ bộ mức độ nghe của các em, học sinh có thể trả lời chưa thật chính xác):

    + Anh thanh niên làm gì trên chuyến xe buýt? (Anh ngồi hai tay ôm mặt).

    + Bà cụ ngồi bên cạnh hỏi anh điều gì? (Này cháu ơi, cháu làm sao thế, cháu bị nhức đầu à. Có cần dầu xoa không?).

    + Anh thanh niên trả lời thế nào? (Không sao đâu cụ ạ. Cháu chỉ không nỡ ngồi nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng trên xe mà thôi).

    - Giáo viên kể lần hai (lần ba nếu cần), yêu cầu học sinh hãy chú ý nghe và ghi nhớ câu chuyện để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện bằng cách kể chuyện.

    * Sau khi nghe kể chuyện:

    Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra mức độ nghe của học sinh như:

    - Tìm hiểu nội dung câu chuyện:

    + Kể tên nhân vật có trong câu chuyện, câu chuyện diễn ra ở đâu?

    + Kể các chi tiết chính của câu chuyện?

    + Nêu ý kiến đánh giá nhân vật: Em có nhận xét gì về anh thanh niên (Học sinh có thể có nhiều ý kiến khác nhau).

    + Giáo viên giúp học sinh nêu ý nghĩa của câu chuyện.

    - Cho học sinh tập kể nhiều lần (cá nhân kể, từng cặp học sinh tập kể thi kể chuyện trước lớp). Giáo viên yêu cầu học sinh nghe, theo dõi bạn kể để nêu được ý kiến bổ sung nhận xét.

    Cuối cùng giáo viên và cả lớp bình chọn những học sinh kể chuyện hay nhất, có nhận xét đúng nhất. Khi sử dụng biện pháp này học sinh nắm chắc được cốt truyện, nhớ được các tình tiết, nhân vật, diễn biến của câu chuyện vì thế học sinh kể lại câu chuyện một cách trôi chảy mạch lạc. Nhờ vậy tính tích cực, chủ động và hứng thú học tập của học sinh được phát huy, hiệu quả giờ dạy được nâng lên, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp tiếng Việt - kỹ năng nghe, nói cho học sinh.

    3. Sử dụng biện pháp "Chuyển đổi ngôi kể" góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng kể chuyện cho học sinh.

    a. Thế nào là chuyển đổi ngôi ?

    Bình thường, mở đầu câu chuyện "Chàng trai Phù Ủng" (TuÇn 19) được kể như sau: "Sáng hôm ấy, bên vệ đường làng Phù Ủng có một chàng trai đội nắng ngồi đan sọt...” Lại có người mở đầu chuyện khác đi " Tôi là Phạm Ngũ Lão, tôi sinh ra và lớn lên ở làng Phù Ủng”.

    Hai cách kể này giống nhau là cùng cốt truyện, khác nhau ở ngôi kể. Cách thứ nhất dùng lời người dẫn chuyện. Cách thứ hai dùng lời nhân vật chính của chuyện: Chàng thanh niên Phạm Ngũ Lão.

    Trong phân môn kể chuyện lớp 3 có dạng bài tập kể lại câu chuyện theo lời nhân vật, loại bài tập này mới xuất hiện trong sách Tiếng Việt 3 (chiếm tỷ lệ 32% tổng số bài tập kể chuyện ở lớp 3), phân môn Tập làm văn lớp 3 (Tiếng Việt 3 nâng cao) nhà xuất bản giáo dục do Lê Phương Nga chủ biên có dạng đề bài: Hãy mượn lời chàng thanh niên Phạm Ngũ Lão để kể lại câuchuyện “Chàng trai làng Phù Ủng”. Làm theo các chủ đề bài này, các em học sinh đã dùng cách thay đổi ngôi kể, chuyển từ lời người dẫn chuyện sang lời nhân vật.

    Một chuyện có nhiều nhân vật, có thể kể lại chuyện đó theo lời nhiều nhân vật khác nhau. Đó là trên lý thuyết. Còn thực tế, người ta thường chọn nhân vật chính, nhân vật quan trọng biết nhiều việc, nhiều người, nhiều cảnh... đứng ra để kể lại câu chuyện. Có như thế lời kể mới hay, hấp dẫn.

    b. Những nét đặc sắc khi thay đổi ngôi kể.

    Sự thay đổi ngôi kể sẽ tạo nên những thay đổi trong điểm nhìn câu chuyện, trong sự tương quan giữa người kể và tác giả. Nói cách khác sử dụng biện pháp này sẽ tạo nên những phiên bản khác nhau của một câu chuyện,  tạo ra nhiều bất ngờ, lý thú cho người nghe, người đọc.

    Xét về mặt giao tiếp, sự chuyển đổi ngôi kể có nghĩa là tạo nên một tình huống giao tiếp mới do sự thay đổi vị trí các nhân vật giao tiếp.

    Áp dụng biện pháp này khi dạy kiểu bài tập nghe - kể trong phân môn Tập làm văn lớp 3 ta có thể hướng dẫn học sinh kể lại các chuyện vui “Dại gì mà đổi” bằng lời của bà mẹ hoặc của cậu bé; chuyện “Tôi có đọc đâu” bằng lời của người bị đọc thư; chuyện “Giấu cày” bằng lời của vợ hoặc người chồng… Chuyện “Chàng trai Phù Ủng” bằng lời của chàng thanh niên Phạm Ngũ Lão hay Trần Hưng Đạo; chuyện “Nâng niu từng hạt giống” bằng lời của nhà bác học Lương Đình Của; chuyện “Người bán quạt may mắn” bằng lời của bà cụ bán quạt hay của nhà thư pháp Vương Hy Chi…

    Đối với câu chuyện “Giấu cày” được dạy ở tuần 15 (SGK - Tiếng Việt 3 - Tập 1).  Sử dụng biện pháp chuyển đổi ngôi kể, một học sinh đã kể lại chuyện “Giấu cày” theo lời của người vợ như sau:

    Chồng tôi tính thì thật thà song khổ nỗi lại chẳng được khôn ngoan như người khác. Tôi đã khốn khổ bao lần vì sự khù khờ của anh ta. Vừa rồi chồng tôi làm mất cái cày. Đầu đuôi câu chuyện như sau:

    Hôm ấy, chồng tôi đang cày ruộng thì tôi gọi ông ấy về ăn cơm. Thấy tôi giục ráo riết quá, chồng tôi liền hét rõ to trả lời: “Đợi tôi giấu cái cày vào bui đã”.

    Thật bực mình “Giấu cày mà lại hét to thế”. Về nhà tôi liền trách ông ấy: “Ông giấu cày mà la to thế, kẻ gian nó biết chỗ, lấy mất cày thì sao?”

    Lát sau, cơm nước xong ông ấy ra ruộng. Quả nhiên như tôi đã dự đoán, chiếc cày đã bị mất. Chồng tôi liền chạy một mạch về nhà. Nhìn trước nhìn sau chẳng thấy ai, ông ấy mới ghé sát vào tai tôi thì thào “Nó lấy mất cày rồi”.

    Chồng ơi là chồng! Mọi người có thấy không? Đến nước này thì tôi chịu làm sao nổi.

    Thử so sánh cïng mét c©u chuyÖn nh­ng kÓ theo hai c¸ch. Về phần cốt truyện chúng hoàn toàn giống nhau, chuyện buồn cười ở điểm “Khi đáng nói nhỏ lại nói to, khi đáng nói to thì lại nói nhỏ”,  ®Òu có hai nhân vật xuất hiện, bác nông dân và vợ bác.

    Chỗ khác nhau là: Cách thay đổi ngôi kể làm cho mỗi lần kể, câu chuyện lại có nét riêng. Nghe người vợ, nhân vật chính của chuyện kể lại chuyện “Giấu cày”, ta thấy như không phải nghe một chuyện cười mà nghe lời tâm sự của chị về cảnh ngộ của mình khi lấy phải một người chồng khờ.

    (Bởi khi kể "chị" xưng "tôi" và đôi chỗ có điều kiện lại bộc bạch tâm trạng của mình).

    Vậy cùng một câu chuyện nhưng thực ra lại là theo hai cách nhìn: Người dẫn chuyện (biết hết mọi điều nhưng không bao giờ xuất hiện trong chuyện) và người vợ (người trong chuyện). Vì thế khiến câu chuyện đã nghe quen nhưng mà lạ, mới mẻ, hấp dẫn hơn. Dù cốt truyện không thay đổi, nhưng mỗi chuyện vẫn có nét đặc sắc riêng, sự lôi cuốn riêng.

    Chuyển đổi ngôi kể còn là một biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm văn kể chuyện, trong đó có kỹ năng “nhập vai vào nhân vật trong chuyện”. Để kể được chuyện “Giấu cày” theo lời người vợ, học sinh phải nghe kể chuyện, sau đó sẽ tưởng tượng mình là người vợ, hình dung ra cảnh ngộ của mình qua đó bộc lộ tâm sự của mình. Vì thế bài kể của học sinh mới có những chi tiết cụ thể sinh động như ta đã thấy.

    c. Những điểm lưu ý giúp học sinh thực hiện “Chuyển đổi ngôi ” khi lại câu chuyện đã nghe.

    - Tóm lại các chi tiết chính của chuyện:

    + Ghi nhớ về nhân vật chính của chuyện: Chuyện có những nhân vật nào?

    + Nhớ diễn biến chính của câu chuyện.

    (Không được thay đổi cốt truyện, nhân vật và ý nghĩa của chuyện).

    - Những điều chỉnh khi thay đổi ngôi kể:

    + Nhớ nhân vật mình đã chọn để kể theo đúng sự tham gia của nhân vật ấy trong câu chuyện.

    + Nhớ nhân vật mình đã chọn để kể từ đầu đến cuối theo đúng lời nhân vật ấy, tránh tình trạng lúc này xưng tôi, lúc khác lại xưng em, mình.

    + Thể hiện cảm xúc, ý nghĩa của nhân vật trong lời kể.

    - Cách tiến hành:

    + Sử dụng biện pháp chuyển đổi ngôi kể nên thực hiện vào cuối giờ học (cuối bài tập).

    + Đối với những tiết đầu khi học sinh mới làm quen với biện pháp này, giáo viên có thể hướng dẫn kỹ hơn, còn các tiết sau giáo viên chỉ cần nêu yêu cầu để học sinh tự chọn nhân vật và tự kể theo lời nhân vật đó.

    Vậy kể theo lời nhân vật (Chuyển đổi ngôi kể) đòi hỏi mỗi học sinh phải đặt mình vào vị trí của một nhân vật đã tham gia hoặc chứng kiến câu chuyện để kể lại câu chuyện đó. Nói cách khác kể theo lời nhân vật cũng là một kiểu bài tập đóng vai để kể lại câu chuyện theo cách nhìn và lời lẽ riêng của vai ấy. (Kỹ năng này học sinh đã được luyện tập khá nhiều qua giờ Tập đọc - kể chuyện. VÝ dô: Bµi tËp ®äc ChiÕc ¸o len, yªu cÇu häc sinh kÓ l¹i chuyÖn theo lêi cña b¹n Lan; bµi TrËn bãng d­íi lßng ®­êng, yªu cÇu häc sinh nhËp vai mét nh©n vËt trong truyÖn kÓ l¹i mét ®o¹n cña c©u chuyÖn...)

    Kể theo nhân vật nhằm rèn kỹ năng độc thoại cho học sinh, đòi hỏi học sinh nhập vai với yêu cầu cao hơn. Bên cạnh những sáng tạo về giọng kể, điệu bộ, cử chỉ, học sinh còn cần sáng tạo lời kể (đổi ngôi kể, đổi câu chữ) trong câu chuyện. Qua đó thể hiện tính cá nhân, cá thể cao.

    Vì vậy, sử dụng biện pháp này sẽ mang lại cho giờ học những bất ngờ thú vị vì những  sản phẩm “nói” hồn nhiên, ngộ nghĩnh  và rất riêng của mỗi học sinh.

     Ngoài ra việc đổi mới phương pháp dạy học cũng phải phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đó là quan tâm đến 3 đối tượng: Khá giỏi, trung bình, yếu. Điều đầu tiên là theo dõi thường xuyên kết quả học tập của học sinh, kể cả trong giờ kể chuyện, để tìm ra cách dạy phù hợp với 3 đối tượng trên. Đặc biệt là quan tâm đến học sinh yếu kém. Tôi tìm hiểu nguyên nhân của từng học sinh tại sao không thể hiện được nội dung câu chuyện. Qua tìm hiểu cho thấy, những em này chưa tích cực hoá hoạt động học tập, chỉ đọc thuộc câu chuyện và kể nguyên văn câu chuyện đó, chứ không kể bằng ngôn ngữ, giọng điệu của mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó, một số em hiểu nội dung câu chuyện nhưng thể hiện câu chuyện đó rất lúng túng, không tự nhiên. Bên cạch đó một số em do năng lực tiếp thu còn hạn chế. Từ đó tôi có biện pháp giải quyết dần tình trạng học sinh không kể được. Cách giải quyết của tôi là coi lớp đang dạy như là một "Lp ghÐp" và vận dụng cách dạy phù hợp với từng đối tượng trong lớp. Tôi điều chỉnh tốc độ giảng dạy để học sinh kém có thể theo kịp. Không chỉ chú ý đến học sinh khá giỏi để câu chuyện nào cũng những em đó thể hiên. Nhưng cũng không vì học sinh yếu kém mà hạ thấp giờ học khiến học sinh trung bình khá giỏi chán nản. CÇn d¹y tèt c¶ ba ®èi t­îng häc sinh:

    + Đối với học sinh khá giỏi, sau khi giáo viên kể lần 1 xong hỏi học sinh theo các câu hỏi gợi ý yêu cầu học sinh khá giỏi kể lại, khi kể biết phối hợp cử chỉ, nét mặt, điệu bộ phù hợp với diễn biến nội dung câu chuyện.

    + Đối với học sinh trung bình thì sau khi giáo viên kể lần 2 học sinh chép các gợi ý và tập kể lại nội dung câu chuyện bằng ngôn ngữ giọng điệu của mình.

    + Đối với học sinh yếu kém sau khi giáo viên kể lần 3 nêu ý nghĩa câu chuyện, gọi học sinh yếu kém kể nếu các em kể lúng túng vì quên chuyện. Giáo viên nhắc một cách nhẹ nhàng để các em nhớ lại câu chuyện.

    Nếu có em kể chuyện thiếu chính xác, giáo viên chỉ nhận xét khi các em kể xong, để các em tự nhiên, không mặc cảm khi kể chuyện. Giáo viên khuyến khích để các em kể tự nhiên như đang kể cho bạn bè và người thân nghe.

    Khi đánh giá nhận xét kết quả cũng theo yêu cầu đã đặt ra: Ngay từ khi soạn bài, giảng dạy, quản lý học sinh, kiểm tra đánh giá đều phải chuẩn bị chi tiết khoa học. Tổ chức tiết dạy làm thế nào để học sinh tự học, tự làm việc một cách tự giác và đầy hứng thú. Nêu câu hỏi gợi ý về nội dung, ý nghĩa câu chuyện để các em trả lời, nắm chắc nội dung, nhớ nhân vật và diễn biến của chuyện.

    Ví dụ: ë tiết Tập làm văn tuần 4 học sinh được nghe câu chuyện "Dại gì mà đổi"

    ( TuÇn 4) yêu cầu đặt ra với các em là nhớ được 2 nhân vật bà mẹ và cậu bé hư, nhớ các chi tiết trên nhưng không cần lặp lại nguyên văn lời của giáo viên. Đặc biệt hướng dẫn các em làm nổi rõ sự hài hước, dí dỏm của câu chuyện qua cách lập luận của chú bé: “Không ai muốn đổi một đứa bé ngoan lấy một đứa bé nghịch ngợm”.

    Ngoài ra để rèn luyện kỹ năng diễn đạt, kể một sự việc đơn giản tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi. Tôi hướng dẫn các em dựa vào một số điểm tựa quan trọng trong sách giáo khoa như tranh minh hoạ và các câu hỏi gợi ý để phán đoán nội dung câu chuyện và có định hướng trong khi nghe.

    Ví dụ:Khi dạy câu chuyện vui "KÐo c©y lóa lªn" Hướng dẫn các em quan sát tranh, đọc thầm tên câu chuyện và các câu gợi ý hỏi các em để định hướng suy nghĩ cho các em.

    - Câu chuyện này tên gì?

    - Em thấy tranh vẽ g×? 

    - TruyÖn cã nh÷ng nh©n vËt nµo?

    - Khi thÊy  lóa cña nhµ m×nh xÊu, chµng ngèc ®· lµm g×?

    - VÒ nhµ anh chµng khoe g× víi chÞ?

    - ChÞ vî ra ®ång thÊy kÕt qu¶ ra sao?

    - V× sao lóa nhµ chµng ngèc bÞ hÐo?

    - Theo em, câu c©u chuyÖn buån c­êi ë chç nµo?

    Từ đó học sinh định hướng được nội dung câu chuyện rồi mới nghe giáo viên kể. Sau lần kể thứ nhất lần lượt hỏi học sinh theo các câu hỏi trong sách giáo khoa.

    TiÕp ®Õn các em kể được toàn bộ câu chuyện, khi kể các em có thể thay đổi một số từ ngữ cho phù hợp, nhưng hướng dẫn các em không thể thay các từ "chốt" đã được tác giả lựa chọn rất chính xác làm lệch câu chuyện. Áp dụng các biện pháp như đẫ nêu trên. Khi dạy kiểu bài nghe - kể trong phân môn Tập làm văn lớp 3 đã thu được kết quả đáng mừng. Cụ thể như sau:

    Khi vận dụng các biện pháp trên vào dạy kiểu bài nghe - kể (nhất là từ cuối học kỳ I lại nay) cho thấy khả năng tiếp thu bài của học sinh rất tich cực, hiệu quả (kỹ năng nghe, nói được luyện dần và phát triển tốt).

    - Tiết học được diễn ra nhẹ nhàng, vui mà có ích. Các em nắm rất nhanh nội dung câu chuyện và biết cách tái tạo lại câu chuyện, trong đó có kỹ năng nhập vai vào nhân vật trong chuyện. Chính vì thế hiệu quả của các bài viết làm văn kể lại câu chuyện đã đọc, đã nghe theo hình thức chuyển đổi ngôi kể của học sinh được nâng lên rõ rệt, phát huy tính sáng tạo của học sinh trong học tập (Đặc biệt là học sinh khá giỏi).

    Ngoài ra tôi áp dụng hình thức dạy học theo nhóm mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và được phát triển. Có thể chia nhóm có trình độ tương đương 3 học sinh khá giỏi, 3 học sinh trung bình, 3 học sinh yếu kém để các em được nghe bạn kể đánh giá nhận xét bạn. Gọi đại diện 3 nhóm thi kể câu chuyện. Trong khi học sinh kể theo nhóm giáo viên đến từng bàn theo dõi uốn nắn, giúp đỡ những em kể chuyện còn kém, động viên kịp thời những em kể hấp dẫn đúng nội dung câu chuyện để các em tự tin hơn, giúp những em kể chưa đủ ý chưa tự nhiên nhận ra thiếu sót của mình. Khi các em kể được câu chuyện đủ ý có cảm xúc thái độ mạnh dạn, tự nhiên. Có những câu chuyện hướng dẫn các em kể chuyện theo phân vai.

    Ví dụ: Câu chuyện: “Chàng trai làng Phù Ủng”, mỗi tốp 3 học sinh tập kể theo phân vai. Người dẫn chuyện, “Hưng Đạo Vương”, “Phạm Ngũ Lão”. Từ đó các em nhớ truyện phân biệt được các nhân vật biết nhận xét về nhân vật trong các câu chuyện, biết kể chuyện với giọng khôi hài.

    Qua thời gian trực tiếp giảng dạy và áp dụng các biện pháp, hình thức tổ chức trên cho đến bài Tập làm văn nghe kể “Người bán quạt may mắn” tuần 24. T«i ®· tiÕn hµnh d¹y mét tiÕt thùc nghiÖm, cã mêi c¸c gi¸o viªn trong tæ cïng vÒ dù giê, gãp ý rót kinh nghiÖm.

     

    iii. Minh häa mét tiÕt d¹y cô thÓ d¹ng bµi tËp lµm v¨n nghe-kÓ ë líp 3.

    - Giê d¹y ®­îc tiÕn hµnh t¹i líp 3A  - Tæng sè HS: 26 em, v¾ng 0.

    - Trong tiÕt d¹y cã c¸c ®ång nghiÖp cïng dù giê.

    tËp lµm v¨n

    Nghe - kể: Người bán quạt may mắn

    I.Mục đích, yêu cầu.

    Rèn luyện kĩ năng nói: Nghe kể câu chuyện Người bán quạt may mắn, nhớ nội dung câu chuyện, kể lại đúng, tự nhiên.

    II. Đồ dùng dạy - học.

    - Tranh minh hoạ truyện trong SGK. Thêm một chiếc quạt giấy lớn viết  một số chữ Hán bằng mực tàu(nếu có điều kiện)

    - Bảng lớp viết 3 câu hỏi gợi ý trong SGK.

    III. Các hoạt động dạy - học.

    A. Kiểm tra bài cũ:

    - Gv xem bài viết của một số HS tuần trước viết chưa đạt,  về nhà viết lại theo đề bài "Kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem". Sau đó, mời hai, ba HS đọc bài trước lớp. GV nhận xét, chấm điểm.

    B. Dạy bài mới:

    1. Giới thiệu bài:

    Trong tiết học hôm nay, các em sẽ nghe cô kể chuyện về một bà lão bán quạt may mắn gì cho bà cụ? Câu chuyện này còn giúp các em biết thêm 1 từ chỉ người hoạt động nghệ thuật (nhà tư pháp) bổ sung cho bài mở rộng vốn từ (tiết LTVC) các em vừa học.

    2. Hướng dẫn HS nghe - kể chuyện.

    a. HS chuận bị.

    * GV cho xuÊt hiÖn tranh yªu cÇu HS quan sát tranh  minh hoạ.

    ? Bức tranh vẽ cảnh gì?

     

     

    - HS quan sát.

     

    - 1 bà lão bán quạt đang ngủ bên gốc cây, cã mét «ng ®ang viết chữ lên những chiếc quạt.

    - GV kể chuyện (kể giọng thong thả thay đổi giọng phù hợp với diễn biến của câu chuyện).

    - Sau khi kÓ xong GV giải nghĩa từ: lem luốc(bị dây bản nhiều chỗ); cảnh ngộ(tình trạng không hay mà người ta gặp phải).

    - Kể xong lần 1(hoặc kể tiếp lần 2) rồi hỏi HS:

    - HS lắng nghe.

    - Bà lão bán quạt gặp ai và phần nàn điều gì?

    - Bà lão bán quạt đến nghỉ dưới gốc cây, gặp ông Vương Hi Chi, phµn nµn quạt bán ế nên chiều nay cả nhà bà không có cơm ăn.

    ? Ông Vương Hi Chi viết chữ vào những chiếc quạt để làm gì?

    - Ông Vương Hi Chi viết chữ, đề thơ vào tất cả những chiếc quạt vì tin rằng bằng cách ấy sẽ giúp được bà lão. Chữ ông đẹp nổi tiếng, nhận ra chữ ông, mọi người sẽ mua quạt.

    ? Vì sao mọi người đua nhau đến mua quạt?

    - Vì mọi người nhận ra nét chữ, lời thơ của Vương Hi Chi trên quạt. Họ mua quạt như mua một tác phẩm nghệ thuật quý giá.

    * GV kể lần 2, lần 3.

    - HS chăm chú lắng nghe.

    3. Hướng dẫn thực hành kể chuyện, tìm hiểu câu chuyện.

     

    - GV chia lớp thành 6 nhóm tậo kể lại câu chuyện.

    - HS chia nhóm theo sự phân công của cô và luân phiên kể cho nhau nghe theo từng đoạn.

    - GV theo dõi, giúp đỡ các nhóm.

     

    * Tổ chức thi kể chuyện giữa các nhóm.

    - Các nhóm cử đại diện thi kể chuyện theo đoạn.

    - GV và cả lớp theo dõi và nhận xét.

     

    * Thi kể toàn bé câu chuyện:

    (GV gîi ý HS kÓ theo lêi ng­êi dÉn chuyÖn hoÆc kÓ theo nh©n vËt mµ m×nh thÝch - «ng V­¬ng Hi Chi hiÆc bµ cô.)

    - HS xung phong lên kể toàn bộ câu chuyện theo mçi c¸ch kh¸c nhau.

    Lưu ý: Kết hợp cử chỉ, điệu bộ.

     

    - GV nh©n xét, đánh giá, tuyên dương HS kể tốt.

     

     ? Qua câu chuyện này, em biết gì về Vương Hi Chi?

    - Vương Hi Chi là một người có tài và nhân hậu, biết cách giúp đỡ người nghèo khổ.

    ? Em biết thêm nghệ thuật gì qua câu chuyện này?

    - Người viết chữ đẹp cũng là nghệ sĩ - có tên gọi là nhà thư pháp (giống trong sách).

    - GV chốt lại:

     

    III. Củng cố - dặn dò:

     

    ? Ông Vương Hi Chí là người như thế nào?

    - Là người có tài và nhân hậu, viết chữ đẹp.

    ? Qua câu chuyện này em hiểu thêm về nghệ thuật gì?

    - Nghệ thuật viết chữ đẹp hay còn gọi là nhà thư pháp.

    - Về nhà luyện kể thêm.

    - HS về nhà kể cho người thân nghe.

     

    III. kÕt qu¶ ®¹t ®­îc

              Sau khi tiÕn hµnh thùc nghiÖm tiÕt d¹y TËp lµm v¨n: Nghe - kÓ “Ng­êi b¸n qu¹t may m¾n”, t«i nhËn thÊy häc sinh tá ra rÊt thÝch häc, giê häc diÔn ra sinh ®éng. Häc sinh tËp trung chó ý cao; tiÕp thu vµ lµm bµi mét c¸ch chñ ®éng, tÝch cùc, tù gi¸c. Nh÷ng häc sinh kh¸, giái cã nhiÒu s¸ng t¹o trong khi kÓ vµ trong lµm bµi, giê häc ®¹t hiÖu qu¶ cao.

     

              KÕt qu¶ cô thÓ nh­ sau:

    - Các em học sinh có hứng thú học tập cao, các em vui và đặc biệt tích cực hơn trong việc kể lại chuyện đã nghe. Kĩ năng nghe và kể lại của các em đã được chú trọng và phát triển hơn, nhiều học sinh kể chuyện rất hay các em không chỉ kể hay mà còn phát hiện rõ cái hay cái thú vị của truyện (ý nghĩa truyện).

    * Kết quả khảo sát

    Lớp

    Tổng số HS

    Số em kể được truyện  đúng, đủ các chi tiết, giọng kể hay, hiểu ý nghĩa chuyện

    Số em kể đúng nội dung chuyện nhưng thể hiện sự khôi hài của chuyện ở mức độ chưa cao.

    Số HS  kể chưa đầy đủ

    các chi tiết,giọng kể chưa tốt

    3A

    26

      15em  = 57,7%

         9 em = 34,7 %

    2 em = 7,6 %

    - 1 em đã thể hiện câu chuyện 1 cách tự nhiên và biết phối hợp cử chỉ điệu bộ phù hợp với diễn biến câu chuyện có thay đổi một số từ không lặp lại nguyên văn mà vẫn đủ nội dung câu chuyện.

    Ông Vương Hi Chi là mét nhà thư pháp nổi tiếng của Trung Quốc ngày xưa. Ông thường đi du ngoạn khắp nơi. Có mét lần ông đang ngồi nghỉ mát dưới gốc cây thì gặp một bà già bán quạt cũng đến nghỉ. Bà than phiền vì quạt bán ế chắc cả nhà bà chiều nay sẽ không có cơm ăn. Trong lúc đó bà già thiu thiu ngủ, ông lặng lẽ viết chữ đề thơ vào từng chiếc quạt. Bà tỉnh dậy thấy những chiếc quạt bị bôi đen lem luốc, hoảng quá bèn bắt đền ông.

    Nào ngờ những chiếc quạt có chữ viết của ông được mọi người xúm lại cầm xem và tranh nhau mua. Một lúc cả gánh quạt đã được bán hết mà còn nhiều người đến hỏi mua với giá rất cao. Bà già bán quạt tiếc ngẩn ngơ và nghĩ bụng. Chắc vị tiên ông nào đó cảm thương cảnh nghèo khó của mình nên đã giúp mình bán quạt nhanh như thế”.

    - 10 em kể đủ ý có cảm xúc, mạnh dạn, tự nhiên và biết phối hợp cử chỉ, nét mặt điệu bộ phù hợp với diễn biến nội dung câu chuyện.

    - 11 em kể đủ ý, mạnh dạn tự nhiên và biết phối hợp một số cử chỉ điệu bộ.

    - 4 em kể đạt yêu cầu nhớ nội dung câu chuyện kể lại đúng tự nhiên.

    Qua bảng tổng hợp trên, kết quả cho thấy tương đối tèt. Từ đó lớp học của tôi hoạt động nhóm dễ dàng hơn, các em hầu hết mạnh dạn tự tin hơn. Tôi nhận thấy rằng: Tất cả học sinh đều rất hào hứng tham gia kể. Các em đã tự giác, tự mình diễn đạt theo cảm nhận riêng của mình về câu chuyện đó.

    Sau mỗi tiết học tạo cho học sinh sự thoải mái, nhẹ nhàng hài hước và có tính giáo dục cao.

     

    phÇn iii - kÕt luËn vµ kiÕn nghÞ

    1. KÕt luËn:

    Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn lớp 3 ở Tiểu học nói riêng có vị trí hết sức quan trong việc bồi dưỡng nhân cách cho học sinh. Mà dạy tốt môn Tập làm văn là rất khó.  V× vËy ®ể dạy tốt kiểu bài nghe kể trong phân môn tập làm văn lớp 3, theo tôi cần chú ý một số vấn đề sau:

    - Mỗi giáo viên phải tự trang bị cho mình nghệ thuật kể chuyện: Hấp dẫn, lôi cuốn người nghe, tạo cho các em cảm giác hứng thú khi nghe kể chuyện.

    - Cần luyện kỹ năng nghe - hiểu cho học sinh trong quá trình nghe – thâm nhập chuyện, chú ý đặc biệt đến định hướng cách nghe cho học sinh trước khi nghe kể chuyện để vừa giúp học sinh có định hướng sơ bộ về câu chuyện sẽ nghe, vừa tạo tâm thế khi bước vào nghe. Nhờ vậy học sinh sẽ ghi nhớ và nắm chắc các tình tiết, diễn biến, ý nghĩa của câu chuyện và tính cách các nhân vật trong câu chuyện.

    - Khi hướng dẫn học sinh kể chuyện giáo viên cần để cho học sinh tự tìm trong vốn hiểu biết của mình để có thể lại chuyện một cách sáng tạo như: Thủ pháp thay đổi dọng kể, “thªm tht” một vài chi tiết phụ, chuyển đổi ngôi kể… Nhưng điều quan trọng là yêu cầu học sinh không được thay đổi cốt truyện, nhân vật và ý nghĩa của chuyện.

    - Cần linh hoạt, áp dụng nhiều thủ thuật trong dạy học bằng cách thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với nội dung của từng bài tâp cụ thể nhằm kích thích sự sáng tạo, hứng thú của học sinh trong học tập (cá nhân kể chuyện, thi kể chuyện trong nhóm, trước lớp, kể chuyện phân vai, nhập vai vào nhân vật).

    Qua việc tiến hành giảng dạy việc đổi mới phương pháp dạy học là dạy đến từng trẻ và điều quan trọng là phải biết trẻ có cái gì? cần cái gì? Từ đó giáo viên bám sát mục tiêu cấp học, lớp học, môn học mà tác động đến từng đối tượng. Nếu thầy giáo, cô giáo hết lòng yêu thương các em, sáng tạo và kiên trì giúp đỡ từng em chắc chắn các em không phải là những em học yếu kém.

    2. KiÕn nghÞ, ®Ò xuÊt:

    - Bé gi¸o dôc ®µo t¹o cÇn bæ sung thªm thiÕt bÞ d¹y- häc cho c¸c tr­êng ®Çy ®ñ h¬n.

     - Bªn c¹nh chuyªn ®Ò båi d­ìng th­êng xuyªn theo chu k×, cÇn t¨ng c­êng h¬n n÷a viÖc tæ chøc c¸c giê d¹y mÉu qua sinh ho¹t chuyªn m«n liªn tr­êng.

     - §èi víi mçi gi¸o viªn cÇn chó träng rÌn vµ ph¸t triÓn kÜ n¨ng kÓ chuyÖn cho tÊt c¶ c¸c ®èi t­îng häc sinh.

       Trên đây là một sáng kiến nhỏ để các em học tốt kiểu bài Tập làm văn nghe - kể mà cái cốt lõi là khi dạy phải  áp dụng phương pháp phù hợp với lớp mình phụ trách và chú trọng đến cả ba đối tượng giỏi khá, trung bình, yếu kém. Do s¸ng kiÕn này tôi nghiên cứu trong một thời gian ngắn, cã thÓ cßn nhiÒu thiÕu sãt vµ khiÕm khuyÕt. Tôi mong được góp sù gãp ý, bæ sung cña c¸c Héi ®ång Khoa häc vµ c¸c ®ång nghiÖp ®Ó nh÷ng kinh nghiÖm nµy hoµn chØnh h¬n nh»m gióp t«i n©ng cao hiÖu qu¶ gi¶ng d¹y ph©n m«n TËp lµm v¨n nãi chung vµ d¹ng bµi TËp lµm v¨n nghe - kÓ nãi riªng vµ ®Ó s¸ng kiÕn nµy sÏ ®­îc ¸p dông réng r·i vµo thùc tÕ d¹y häc.

                                                     T«i xin ch©n thµnh c¶m ¬n!

     

                                                                           


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Thanh nguyệt @ 21:25 03/09/2015
    Số lượt xem: 811
    Số lượt thích: 1 người (Tạ Thị Quỳnh)
    No_avatarf

    Xấu hổ bài này được gửi lên rất hay và cảm động , sôi nổi , nghe em có cảm giác cảm động và giờ phút này em cảm động đến nỗi muốn khóc , nhưng vì bố mẹ em đang ở đây nên em ko dám khóc . Em đọc cho mọi người nghe mọi người cảm động đến nỗi muốn khóc nhưng gia đình em ko khóc được nhưng em hiểu ý mọi người phải cố nín khóc như bố mẹ em đang rất gương mẫuLè lưỡiôi cảm động quá huhuhu..Ngạc nhiênLa hét

     
    Gửi ý kiến